Tin tức

Các loại dầu gốc trong sản xuất dầu nhớt

Tham khảo: Các thành phần cơ bản của dầu nhớt

  • Dầu gốc là gì? Có những loại dầu gốc nào? Ảnh hưởng của dầu gốc đến chất lượng cũng như các tính chất của dầu nhờn thành phẩm thế nào là điều mà không phải ai cũng biết. Hôm nay, chúng tôi xin được giải đáp các thắc mắc của Quý khách hàng ở bải viết này.

dầu gốc là gì 4-10

Phân loại dầu gốc của viện dầu mỏ Mỹ API

Dầu gốc là gì?

  • - Dầu gốc (tên tiếng Anh là Based oil)  là thành phần chủ yếu tạo nên dầu nhớt. Dầu gốc là dầu thu được sau quá trình chế biến, xử lý tổng hợp bằng các quá trình xử lý vật lý và hóa học. Dầu gốc thông thường gồm có ba loại là: dầu khoáng, dầu tổng hợp toàn phần và dầu bán tổng hợp.
  • - Với tính chất ưu việt như giá thành rẻ, sản phẩm đa dạng và phong phú, dầu khoáng đã chiếm một vị trí quan trọng trong lĩnh vực sản xuất dầu nhờn. Trong những năm gần đây, Dầu tổng hợp cũng được quan tâm nhiều bởi tính chất ưu việt của nó so với dầu khoáng thông thường. Dầu bán tổng hợp là loại dầu được pha trộn từ Dầu khoáng (70%) và Dầu tổng hợp (30%), dầu bán tổng hợp sẽ là tương lai của ngành công nghiệp chế biến dầu do nó mang những đặc tính vượt trội của Dầu tổng hợp, nhưng giá thành thấp hơn từ 50 - 60%.
  • - Trong các thành phần của dầu nhớt, thành phần của dầu gốc thường chiếm tỷ lệ từ 70-90% khối lượng của dầu thành phẩm còn lại là các chất phụ gia. Phần lớn dầu gốc được chế tạo từ dầu thô và được gọi là dầu khoáng. Các loại dầu gốc được chế biến từ việc tổng hợp hydro-cacbon từ dầu thô được gọi là dầu tổng hợp.
  • - Tùy theo các nhà sản xuất khác nhau sẽ có công thức, cách pha chế để cho ra đời các sản phẩm đáp ứng các yêu cầu của từng loại động cơ với mức độ bôi trơn và điều kiện làm việc khác nhau.

Có các nhóm dầu gốc nào?

  • - Dầu gốc nhóm I: được sản xuất với các quá trình xử lý bằng dung môi, có hàm lượng lưu huỳnh >0.03% (300 ppm), thành phần parrafinic; napthenic (cấu trúc mạch hở hay có vòng no) thấp hơn 90%. Như vậy thành phần aromatic (vòng không no) cho phép đến hơn 10%, tuy nhiên đối với loại dầu này thì thành phần aromatic chỉ từ 1-2%. Chỉ số độ nhớt từ 80-120, nhưng thông dụng nhất hiện nay là 100 +/-2 tuỳ theo phân đoạn.
  • - Dầu gốc nhóm II: được sản xuất ngoài xử lý bằng dung môi có thêm quá trình xử lý bằng hydro nên hiện nay: hàm lượng lưu huỳnh <0.01% (thường 20-40 ppm) thành phần aromatic <1% (100 ppm), chỉ số độ nhớt từ 105-115.
  • - Dầu gốc nhóm III: được sản xuất ngoài xử lý bằng dung môi có thêm quá trình xử lý cracking mạch bằng hydro nên chỉ số độ nhớt rất cao (khoảng 120-135), không phát hiện ra lưu huỳnh và aromatic. Nhưng nhược điểm là Độ nhớt động học (ở 100 độ C và 40 độ C) rất thấp.
  • - Dầu gốc nhóm IV: hay dầu gốc PAO (Poly AlphaOlefine) là Dầu gốc tổng hợp toàn phần. Dầu gốc tổng hợp toàn phần có tính chất rất cao cấp như: chỉ số độ nhớt rất cao (>145), không có lưu huỳnh hay aromatic.
  • - Dầu gốc nhóm V: là các loại khác loại trên nhưng được tổng hợp như : ester, di-ester, poly buten poly alpha glycol...có tính chất rất cao cấp: chỉ số độ nhớt rất cao, bền nhiệt...
  • Dầu gốc có hàm lượng lưu huỳnh thấp và aromatic thấp thì bền oxy hoá và bền nhiệt...

bảng biểu diễn tính chất của dầu gốc 22 3

Bảng biểu diễn tính chất của các nhóm dầu gốc

Các loại dầu gốc trong sản xuất dầu nhờn

  • - Do trước đây với hạn chế của dầu gốc nhóm I, người ta pha thêm dầu gốc nhóm III để tăng tính kháng oxy hoá và quan trọng hơn là hạn chế tính bay hơi của dầu động cơ. Lý do đó người ta pha khoảng 30% dầu gốc nhóm I để tạo ra loại dầu nhớt Bán tổng hợp (Semi synthetic/ Synthetic based).
  • - Hiện nay trước khuynh hướng sử dụng dầu có tính tiết kiệm nhiên liệu nên các nhà sản xuất hay sử dụng dầu gốc nhóm II và nhóm III để pha chế dầu nhớt cho động cơ. Các loại dầu này thường có độ nhớt thấp : 5W-XX, 10W-XX hay 0W-XX nên các hãng thường quảng cáo là Dầu tổng hợp.
  • - Hiện nay khuynh hướng các hãng sản xuất dầu gốc chuyển đổi sang sản xuất dầu gốc nhóm II và nhóm III nên nguồn cung dầu nhóm I không dồi dào như trước. Giá dầu gốc nhóm II gần tương đương dầu gốc nhóm I, nhóm III cao hơn nhóm II và nhóm I khoảng 4.000 VND/Lít.
  • - Trong khi đó, một loại "Dầu nhớt tổng hợp" Gốc khoáng trên thị trường sẽ cao hơn loại dầu nhớt động cơ gốc khoáng khoảng 80.000 VND/Lít ( 20 lần). Dầu gốc nhóm II pha chế dầu nhớt động cơ (chỉ số độ nhớt khoảng 115) hiện nguồn cung rất dồi dào và cũng được thổi phồng lên " Bán tổng hợp".

Ảnh hưởng của dầu gốc đến chất lượng của dầu nhờn thành phẩm:

  • Dầu gốc khoáng (Mineral): dầu khoáng được tách ra từ dầu thô qua quá trình lọc hóa dầu; có chi phí sản xuất thấp và chất lượng trung bình.
  • Dầu gốc tổng hợp (fully synthetic): dầu tổng hợp được chế biến từ việc tổng hợp (qua quá trình xử lý hóa học, vật lý); các thành phần của hydrocacbon từ dầu thô hoặc các chất liệu khác. ƯU ĐIỂM: có khoảng nhiệt độ hoạt đông rộng, thời gian thay dầu kéo dài; ít tiêu hao và bảo vệ động cơ tốt hơn nhưng chi phí sản xuất cao.
  • Dầu gốc bán tổng hợp (semi synthetic): dầu bán tổng hợp có thành phần pha trộn giữa dầu khoáng và dầu tổng hợp (chiếm khoảng 10%); chi phí sản xuất hợp lý cho chất lượng tương đối tốt.

Dầu gốc là gì 15-2

Đại diện dầu nhớt Morris Việt Nam cảm ơn sự quan tâm của quý khách

  • Hy vọng rằng qua bài viết này, chúng tôi có thể giải đáp được phần nào các thắc mắc của Quý khách hàng về dầu gốc là gì và các loại dầu gốc trong sản xuất dầu nhờn là như thế nào?. Nếu quý khách còn thắc mắc hay cần tư vấn về dầu gốc, cũng như các ứng dụng bôi trơn cho động cơ của mình và muốn nhận được tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia kỹ thuật của chúng tôi. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp tới số 088.868.9193. Đại diện dầu nhớt Morris hân hạnh được phục vụ Quý khách.
  • Thông tin liên hệ:
  • CÔNG TY TNHH CÔNG NGHIỆP LINH ANH
  • Địa chỉ: Tầng 10 Tòa nhà văn phòng Intracom, phường Phúc Diễn, Quận BắcTừ Liêm, Thành Phố Hà Nội
  • Mã số thuế: 0106990685

 dầu gốc morris 4-10

Bài viết nhiều người đọc nhất

Bài viết mới nhất

Bài viết cùng chuyên mục